Xem thêm

Từ: Đơn vị cấu tạo ngôn ngữ

Trong tiếng Việt, từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, mang nghĩa hoàn chỉnh và được sử dụng để tạo thành câu. Từ có thể là tên của vật thể, chỉ các hoạt động,...

Trong tiếng Việt, từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất, mang nghĩa hoàn chỉnh và được sử dụng để tạo thành câu. Từ có thể là tên của vật thể, chỉ các hoạt động, trạng thái, tính chất và là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực.

Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm cấu tạo từ, hình thái học, ngữ âm học, phong cách học, và cú pháp học.

Đơn vị cấu tạo từ

Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là "tiếng", có thể hiểu như các "âm tiết". Từ chỉ gồm 1 tiếng được gọi là từ đơn, từ gồm nhiều tiếng hoặc 2 tiếng được gọi là từ phức.

Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không giống nhau.

"Tiếng" của tiếng Việt tương đương với hình vị trong các ngôn ngữ khác và được gọi là "hình tiết" - âm tiết có giá trị hình thái học.

Về nghĩa, giá trị ngữ pháp và năng lực tham gia cấu tạo từ, không phải tiếng (hình tiết) nào cũng giống nhau.

Trước hết có thể thấy ở bình diện nội dung:

Sự tranh luận về giá trị và ý nghĩa của tiếng tập trung ở các loại tiếng thuộc nhóm a và b, nhất là loại c. Tuy nhiên, tư cách và giá trị tương đương với hình vị trong tiếng Việt vẫn có thể chứng minh được qua các hiện tượng tách rời, lặp, chen thành tố, rút gọn.

Mặt khác, cần thấy rằng các tiếng thuộc nhóm c này không chiếm số lượng nhiều trong tiếng Việt và đa số thuộc nguồn gốc ngoại lai. Chúng thuộc phạm vi ở vùng biên chứ không phải ở vùng tâm của tiếng Việt. Hơn nữa, trong ứng xử ngôn ngữ, người Việt luôn có tâm lý chờ đợi ở mỗi tiếng một phần nghĩa nào đó, hoặc sẵn sàng cấp cho nó một nghĩa nào đó. Nếu không vậy thì làm sao người ta có thể chấp nhận được những tiếng như "Trời đất khen sao khéo khéo phòm" của Hồ Xuân Hương?

Nói tóm lại, trong Việt ngữ học hiện nay, nếu lấy tiêu chí "có chỉ ra, có quy chiếu vào đối tượng nào, khái niệm nào hay không", thì người ta vẫn quen phân loại và gọi các tiếng thuộc nhóm a là loại tiếng có nghĩa, còn các tiếng thuộc nhóm b và c là tiếng vô nghĩa.

Về năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể chia các tiếng thành hai loại. Tuy nhiên, ranh giới của các loại tiếng không phải là hoàn toàn tuyệt đối. Cần phải lưu ý đến những trường hợp trung gian giữa loại này với loại kia, và phạm vi này với phạm vi kia.

Phương thức cấu tạo từ

Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc bằng cách sử dụng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó.

Phương thức "dùng một tiếng" làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết). Từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng.

Phương thức "tổ hợp" các tiếng lại, mà giữa các tiếng có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép. Có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau:

  • Từ ghép đẳng lập: Những từ ghép này các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa. Có thể lưu ý tới hai khả năng.

  • Từ ghép chính phụ: Những từ ghép này có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính.

Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm).

Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt.

Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp vừa có biến đổi. Ví dụ: "đỏ đắn": điệp ở âm đầu, đối ở phần vần.

Rất nhiều tên gọi các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, các danh nhân, địa danh... trong tiếng Việt ngày nay đã được rút gọn lại.

Có thể phân loại từ láy như sau:

  • Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo sau.

  • Láy hoàn toàn: Bạn có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn.

  • Láy bộ phận: Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ.

  • Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế láy của từ láy hai tiếng.

Trên thực tế, số lượng từ láy 3 tiếng và 4 tiếng không nhiều. Mặt khác, có thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước "tiếp theo" trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng mà thôi. Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần. Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng" giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng.

Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo các cách nêu trên; hoặc từ một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng. Chẳng hạn: "bù lu bù loa; bông lông ba la"... hoặc "bắng nhắng - bắng nha bắng nhắng; bắng nhắng bặng bặng nhặng"...

Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và thú vị, nhất là ở nhiều nhóm từ có khuôn cấu tạo giống nhau về nghĩa. Điều này cần được khảo sát riêng tỉ mỉ hơn.

Từ các kiểu từ đã trình bày trên đây, tiếng Việt còn có một lớp từ mà người bản ngữ hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo (các tiếng) của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa. Vì vậy, từ góc độ phân loại, cần tách chúng ra và gọi là các "từ ngẫu hợp" với ngụ ý: các tiếng tổ hợp với nhau ở đây một cách ngẫu nhiên. Lớp từ này bao gồm các từ mới mà chúng ta gặp thấy trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kĩ thuật.

Biến thể của từ

Trong hoạt động ngôn ngữ, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu trúc. Tuy nhiên, cần nhớ rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình. Đây chỉ là những biến động tạm thời hoặc dạng "lời nói" của từ. Các biến động này không đều đặn và chỉ xảy ra ở một số từ trong một số trường hợp sử dụng.

Có một số dạng biến động như sau:

  • Biến một từ có cấu trúc lớn thành từ có cấu trúc nhỏ hơn. Đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn.

  • Lâm thời nằm giữa các thành tố cấu tạo của từ, phân bố lại yếu tố tạo từ với những yếu tố khác ngoài từ. Sự biến đổi này có nhiều mục đích và có thể mang tính chơi chữ.

  • Biến đổi từ đơn giản thành từ có cấu trúc phức tạp hơn không phổ biến trong tiếng Việt hiện nay do nguyên tắc tiết kiệm trong ngôn ngữ.

Sự biến đổi của từ tiếng Việt là rất đa dạng và thú vị, tạo ra sự đa dạng và sáng tạo trong ngôn ngữ của chúng ta.

Thông tin tham khảo: Wiktionary

1