Khiên ngưu: Một vị thuốc tự nhiên đáng tiếc nếu bỏ qua

Ảnh: Khiên ngưu vị thuốc lợi tiểu Khiên ngưu, hay còn gọi là khiên ngưu tử (Pharbitis hay Se men Pharbitidis), là một loại hạt phơi khô của cây khiên ngưu hay bìm bìm biếc....

Khiên ngưu vị thuốc lợi tiểu Ảnh: Khiên ngưu vị thuốc lợi tiểu

Khiên ngưu, hay còn gọi là khiên ngưu tử (Pharbitis hay Se men Pharbitidis), là một loại hạt phơi khô của cây khiên ngưu hay bìm bìm biếc. Cây khiên ngưu mang lại vị thuốc nhựa đặc biệt và có nhiều tên khác nhau như Hắc sửu, Bạch sửu, bìm bìm biếc, kalađana (Ấn Độ), Bồ tăng thảo, Cẩu nhĩ thảo, Giả quân tử, Hắc ngưu, Nhị sửu, Tam bạch thảo, Thảo kim linh, Thiên già, Lạt bát hoa, và nhiều tên khác. Tên tiếng Trung của cây là 牽牛. Khiên ngưu thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) và có tên khoa học là Pharbitis hederacea Choisy.

Cây Khiên ngưu

Khiên ngưu Ảnh: Khiên ngưu vị thuốc lợi tiểu

Khiên ngưu là một loại cây leo, thân mảnh, có điểm những lông hình sao. Lá hình tim xẻ 3 thùy, nhẵn và xanh ở mặt trên, xanh nhạt và có lông ở mặt dưới, dài 14cm, rộng 12cm, cuống dài 5-9cm, gầy, nhẵn. Hoa màu hồng tím hay lam nhạt, lớn, mọc thành từ 1-3 hoa, ở kẽ lá. Quả nang hình cầu, nhẵn, đường kính 8mm, có 3 ngăn. Hạt 2-4, hình 3 cạnh, lưng khum, hai bên dẹp, nhẵn nhưng ở tễ hơi có lông, màu đen hay trắng tùy theo loài, dài 5-8mm, rộng 3-5mm. Mỗi 100 hạt chỉ nặng chừng 4,5g. Cây mao khiên ngưu (Ipomea purpurea) cũng là một loại cây thuộc họ Bìm bìm (Convolvulaceae) và có tên khác là Pharbitis hispida Choisy.

Ngoài hạt khiên ngưu, người ta còn sử dụng hạt cây mao khiên ngưu (Ipomea purpurea) cùng họ. Tên "khiên" có nguồn gốc từ việc dùng vị thuốc này trị bệnh và "ngưu" nghĩa là trâu, bởi vì trước đây người ta dẫn trâu tới tạ ơn người đã giúp chữa bệnh bằng vị thuốc này.

Phân bố, thu hái và chế biến

Khiên ngưu thường mọc hoang ở nhiều tỉnh thành Việt Nam, cũng như ở Ấn Độ, Malaixya, Thái Lan và nhiều vùng khác trên thế giới. Quả của cây chín vào các tháng 7-10, đây là thời điểm người ta thu hái để sử dụng hạt khiên ngưu phơi khô.

Thành phần hoá học và tác dụng dược lý

Hình ảnh khiên ngưu tử sao Ảnh: Hình ảnh khiên ngưu tử sao

Trong khiên ngưu tử, chúng ta có thể tìm thấy các chất như Pharbitin (Pharbitic acid và vài Purolic acid) là chất Glucosid chiếm khoảng 2%, Nilic acid, Gallic acid, Lysergol, Chanoclavine, Penniclavine, Isopenniclavine, Elymoclavine. Ngoài ra, khiên ngưu tử còn chứa khoảng 11% chất béo và 2 sắc tố cũng là glucosid. Trong khiên ngưu tử, chúng ta cũng có khoảng 2% chất glucosid gọi là phacbitin có tác dụng tẩy.

Về tác dụng dược lý, khiên ngưu tử có tác dụng tẩy và kích thích ruột, giúp tạo nhu động ruột và gây ra hiện tượng tẩy xổ. Khiên ngưu tử có tác dụng lên thận, tăng độ lọc Inulin của thận. Ngoài ra, khiên ngưu tử còn có tác dụng ức chế giun đũa (Trung Dược Học). Thuốc này độc tính cao, với liều LD50 là 37,5g/kg ở chuột. Ở người, có thể gây mửa và nôn do thuốc kích thích trực tiếp trên đường tiêu hóa. Liều cao có thể ảnh hưởng đến thận, gây ra việc tiểu có máu cũng như các triệu chứng thần kinh (Trung Dược Học).

Vị thuốc Khiên ngưu

Hình ảnh khiên ngưu tử (hạt bìm bìm) Ảnh: Hình ảnh khiên ngưu tử (hạt bìm bìm)

Vị thuốc Khiên ngưu có nhiều công dụng và được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau với tính vị cay, tính nóng hơi và có độc. Vị thuốc này thường vào 3 kinh phế, thận, và đại tràng. Công dụng chính của vị thuốc Khiên ngưu bao gồm giúp tả khí phân thấp nhiệt, trữ đờm, tiêu ẩm lợi nhị tiện, chữa tiện bĩ, và hạ khí, lợi tiểu, cưỡng trực thũng, sát trùng. Trong thực tế, khiên ngưu cũng được sử dụng để thông đại và tiểu tiện, làm thông mật và có tác dụng điều giun.

Đối với liều dùng, mỗi ngày có thể dùng 2-3g khiên ngưu tán bột, dùng nước để uống. Nếu dùng nhựa khiên ngưu, chỉ cần dùng mỗi ngày 0,20-0,40g, và có thể tăng liều lên 0,60-1,20g.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Khiên ngưu

Đơn thuốc chữa phù thũng, nằm ngồi không được

  • Khiên ngưu 10g, nước 300ml. Sắc còn 150ml chia 2 lần uống trong ngày, nếu tiểu tiện nhiều được thì có thể tăng liều uống cao hơn, tuỳ theo bệnh tình có thể uống tới 40g.

Viên khiên ngưu chữa tinh thần phân liệt

  • Đại hoàng 12g, hùng hoàng 12g, nấc và bạch sửu 24g, kẹo mạch nha 16g. Các vị được tán bột và làm thành viên viên 2g. Ngày uống 4 viên. Dùng một đợt trong vòng 15 ngày, sau đó nghỉ 7 ngày rồi lại dùng tiếp.

Trị thủy thũng, cước khí

  • Binh lang Khiên ngưu tử Mộc hương Trần quất bì (bỏ xơ) Xích phục linh (bỏ vỏ đen) đều 30g. Tán bột và dùng 6g mỗi lần. Thêm 150ml nước, sắc uống.

Trị phù, táo bón, tiểu bí

  • Bạch Khiên Ngưu Tán: Bạch khiên ngưu (nửa để sống, nửa để chín) 4g, Bạch truật (sao đất) 4g, Quất hồng 4g, Cam thảo (nướng) 4g, Tang bạch bì 4g, Mộc thông 4g. Tán bột và uống 8-12g mỗi ngày.

Trị trẻ nhỏ bị bạo suyễn (gọi là mã tỳ phong), đờm hỏa làm tổn thương phế, nhiệt đờm ủng tắc

  • Chỉ xác, Đại hoàng (sao rượu), Hắc khiên ngưu. Tán bột và uống với nước sôi.

Một số bài thuốc có khiên ngưu

  • Đại Hoàng Khiên Ngưu Tán: Trị táo bón.
  • Ngưu Hoàng Đoạt Mệnh Tán: Trị chứng mã tỳ phong.
  • Nga Truật Hoàn: Hòa tỳ, ích vị, dẫn khí, thanh thần, kích thích tiêu hóa.
  • Quy Ngưu Tán: Trị chứng đau từ bìu dái đến bụng dưới, tiểu bí, khóc đêm.
  • Thái Bạch Tán: Trị kinh phong cấp.

Tham khảo

Thaythuoccuaban.com Tổng hợp

1