Cây ngưu tất: Khám phá công dụng, cách sử dụng và liều dùng chuẩn

Hình ảnh cây Ngưu tất Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá thông tin mới về cây Ngưu tất và những lợi ích của nó, bao gồm khả năng chống viêm, giảm cholesterol,...

Hình ảnh cây Ngưu tất

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá thông tin mới về cây Ngưu tất và những lợi ích của nó, bao gồm khả năng chống viêm, giảm cholesterol, hạ huyết áp và giảm đau.

Giới thiệu về cây Ngưu tất

  • Tên khoa học: Achyranthes bidentata

  • Tên tiếng Việt: Hoài ngưu tất, Cỏ xước hai răng, Cây cỏ xước.

  • Phân loại khoa học:

    • Giới Plantae
    • Bộ Caryophyllales
    • Họ Amaranthaceae
    • Chi Achyranthes
    • Loài A. bidentata
  • Mô tả cây Ngưu tất:

    • Cây thảo sống nhiều năm, cao 0,6 - 1m. Rễ củ dạng hình trụ dài, có nhiều rễ phụ to. Thân mảnh, hơi vuông, màu lục hoặc nâu tiạ, có 4 cạnh, phiến lên ở các đốt.
    • Lá mọc đối, dài 5 - 12cm, rộng 2 - 4cm, phiến lá hình trái xoan bầu dục hoặc hình mác, gốc thuôn hẹp, hai đầu rất nhọn, hai mặt nhẵn, mép nguyên hoặc lượn sóng, có lông thưa hoặc không lông, gân lá mặt trên thường có màu nâu tiạ, gân phụ 5 - 7 cặp; cuống lá dài 1 - 1,5cm.
    • Cụm hoa hình bông mọc ở ngọn thân hoặc kẻ lá đầu cành, dài 2 - 5cm; hoa thường gặp xuống, sát vào cuống và cụm hoa; lá bắc dài 3mm; lá đài 5, gần bằng nhau; nhị 5, chỉ nhị dính với nhau và dính cả nhị lẻ; nhị lẻ có răng rất nhỏ, bao phân hình mặt chim; bầu hình trứng.
    • Quả bé hình bầu dục, chứa một hạt hình trụ.
    • Rễ hình trụ, dài 20 - 30cm. Đầu trên mang vết tích của gốc thân, đầu dưới thuôn nhỏ. Mặt ngoài của rễ có màu vàng nâu, có nhiều nếp nhăn dọc nhỏ và vết tích của rễ con còn sót lại.
  • Sinh thái:

    • Ngưu tất thích nghi với hầu hết các khí hậu, biên độ sinh thái của cây tương đối rộng. Cây ưa sáng và ẩm, cây cho ra hoa quả nhiều, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt.
    • Mùa hoa nở vào tháng 8 - 9; mùa kết quả vào tháng 10 - 11.
  • Phân bố trên thế giới: Phân bố tập trung chủ yếu ở Đông Bắc Trung Quốc, Nhật Bản.

  • Phân bố tại Việt Nam: Được nhập và trồng ở cả núi cao lẫn đồng bằng, như Sìn Hồ (Lai Châu), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Văn Điển (Hà Nội).

  • Bộ phận dùng: Thường dùng rễ củ đã được phơi khô hoặc sấy khô của cây Ngưu tất.

Tham khảo thêm về dược liệu Bạch linh

Hình ảnh cây Ngưu tất Hình ảnh cây Ngưu tất

Tác dụng của Ngưu tất

Tác dụng chống viêm

Rễ Ngưu tất có tác dụng chống viêm rõ rệt đối với giai đoạn cấp tính và mạn tính của phản ứng viêm thực nghiệm. Tác dụng mạnh hơn khoảng 4 lần so với rễ Cỏ xước.

Có thể bạn quan tâm: Cây Đảng sâm: Vị thuốc quý cho mọi nhà. Tác dụng của Đảng sâm

Tác dụng trên tuyến ức

Ngưu tất tác dụng gây thu teo tuyến ức chó cái cống đực non. Tác dụng gây thu teo tuyến ức là một trong những đặc tính tác dụng của thuốc ức chế miễn dịch. Rễ Ngưu tất có tác dụng mạnh hơn khoảng 8 lần so với rễ Cỏ xước. Có mối tương quan song song giữa tác dụng chống viêm và tác dụng gây thu teo tuyến ức của rễ Ngưu tất.

Tác dụng hạ huyết áp và giảm cholesterol máu

Rễ Ngưu tất làm giảm cholesterol máu ở thỏ đã gây tăng cholesterol máu thực nghiệm do ức chế sự hấp thu cholesterol từ ngoài vào và cả sự tổng hợp cholesterol trong cơ thể thỏ; gây hạ huyết áp rõ rệt trên mèo, mức độ hạ huyết áp từ từ, thời gian tác dụng kéo dài. Có độc tính cấp.

Tác dụng điều trị xương khớp

Các chế phẩm có chứa Ngưu tất và một số dược liệu khác đã được điều trị thoái khớp, có tác dụng chống viêm và giảm đau rõ rệt trên lâm sàng. Kết quả tốt nhất và tương đối nhanh đối với đau lưng cấp do lạnh và san chấn.

Đối với viêm da khớp dạng thấp, chưa có biến dạng về khớp và đối với chứng đau nhức đơn thuần, tác dụng điều trị tương đối tốt. Khi đã có biến dạng về xương, cơ, khớp, kết quả kém.

Tác dụng trên co bóp cổ tử cung

Ngưu tất có tác dụng chống loãng và gây co cơ trơn tử cung chó cái mà không làm co cơ trơn ruột và gây sẩy thai ở người.

Một bài thuốc có Ngưu tất làm thành phần trong thuốc có tác dụng gây sẩy thai trên chuột nhắt chứa ở giai đoạn thai sơm. Ecdysteron và inkosterol trong Ngưu tất có tác dụng dự phòng sự tăng đường máu gây bởi glucagon ở chuột cống trắng. Cho chuột cống trắng uống hằng ngày hỗn hợp 2 chất 0,2 - 2g/kg trong 35 ngày không gây tác dụng độc.

Tác dụng chống hình thành khối u

Polysaccharide trong chiết xuất cây Ngưu tất có khả năng ngăn chặn sự phát triển và di căn của các khối u một cách an toàn và hiệu quả. Nó hoạt động bằng cách ngăn tế bào u kết dính với các mạch máu bên trong cơ thể và ngăn chuyển tiếp từ các tế bào u sang các mô khác.

Polysaccharide hoạt động như một chất ức chế cạnh tranh giữa các yếu tố tăng trưởng biểu mô, giúp kiểm soát quá trình đồng phân hóa của tế bào u. Nó ngăn chặn sự kích hoạt của các con đường tín hiệu trong tế bào u bằng cách ngăn trực tiếp các tương tác phức tạp giữa các phân tử.

Các tác dụng khác

  • Cao Ngưu tất giảm các chỉ số lipid như: lipid toàn phần, cholesterol toàn phần, cholesterol trong thành phần beta - lipoprotein và những glycerid.
  • Trên sự cử động của răng chỉnh hình, Ngưu tất làm tăng cử động của răng lên 1,6 lần. Xét nghiệm của một tổ chức học cho thấy sự tiêu xương ở mặt chịu áp lực của răng có cử động rõ hơn ở động vật thử thuốc so với đối chứng.
  • Ngưu tất không gây biến dị trong thử nghiệm trên Bacillus subtilisSalmonella typhimurium, có tác dụng khang quá mẫn cảm trong thí nghiệm lát cắt phổi chuột nhắt.

Dược liệu Ngưu tất Tác dụng của Ngưu tất

Thu hái, chế biến dược liệu Ngưu tất

Thu hái

Rễ được thu hái khi phần trên mặt đất tàn luội, khi thân và lá đã khô héo, thu hoạch vào mùa đông xuân, thường tháng 1 - 2 ở vùng núi hoặc tháng 3 - 4 ở đồng bằng. Nên chọn các rễ to, dài và dẻo, tránh dùng những rễ đã héo.

Chế biến

  • Đào lấy rễ, chọn loại rễ to, cắt bỏ rễ con và đầu rễ, loại bỏ đất, buộc thành bó nhỏ, đem phơi tải rồi ủ đến khi héo, khô nhăn da khoảng 6 - 7 ngày, xông diêm sinh, sấy khô.
  • Dùng sống (thường dùng), hoặc tẩm rượu sao hoặc muối tuỳ theo trường hợp, rồi phơi hay sấy khô.

Bảo quản

Để dược liệu ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh mốc mọt.

Thu hái và chế biến Ngưu tất dược liệu Thu hái và chế biến Ngưu tất dược liệu

Thành phần hóa học

  • Rễ củ Ngưu tất chứa saponin triterpen dẫn chất của acid oleanolic và galactoza, hramnoza, glucoza. Ngoài ra, còn có các ecdysterol, inokosterol và muối Kali.
  • Theo một tài liệu khác, rễ chứa một saccharid là fructan mach ngắn với mức độ trùng hợp trung bình là 8. Hoạt chất saccharid này có tác dụng cải thiện hệ miễn dịch.
  • Rễ còn có một peptid - polysaccharid trong đó 24,1% là peptid bao gồm glycin, acid glutamic, seric và acid aspartic. Chất peptid - polysaccharid này có tác dụng miễn dịch.
  • Betain có trong rễ với hàm lượng 0,930 - 1,029% đã được chứng minh là ổn định trong quá trình chế biến.
  • Rễ khô còn có physcion và emodin.

Công dụng của Ngưu tất

Trong dân gian, Ngưu tất được dùng để chữa thoái khớp, kinh đau, huyết áp cao, bệnh tăng cholesterol máu, viêm họng, đau bụng, kinh nguyệt khó khăn.

  • Ngưu tất dạng sống chữa cổ họng sưng đau, mụn nhọt, tiểu ra máu, tiểu rách buốt hoặc sỏi, bụng dưới kết hôn cục, đẻ khó hoặc khi đẻ nhau thai không ra, sau khi đẻ ứ huyết gây đau bụng, chấn thương, ứ máu bầm, đầu gốc nhức mỏi.
  • Ngưu tất sao tẩm chữa căn thận hư, uỷ tai, đau lưng, mỏi gốc, tay chân có quắp hoặc bài tiết.
  • Ngoài ra, rễ Ngưu tất còn được dùng làm thuốc kích thích tình dục, tráng dương, chữa liệt dương, gây sẩy thai. Dùng ngoài chữa các bệnh về da chân và các nấm (bệnh nấm biểu biến).
  • Hạt được dùng làm thuốc chống độc, chữa rắn cắn, thoái khớp, hen phế quản.

Dược liệu Ngưu tất trong các bài thuốc dân gian Dược liệu Ngưu tất trong các bài thuốc dân gian

Một số bài thuốc chữa bệnh sử dụng Ngưu tất dược liệu

Ngày dùng từ 8 - 12g, dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dạng bột. Ngoài ra còn được sử dụng trong các bài thuốc sau đây:

Chữa bí tiểu tiện ở người già

Ngưu tất, Xa tiền tử, Thục địa, Hoài sơn, mỗi vị 12g; Sơn thù, Trạch tả, Phục linh, Phụ tử chế, Đan bì, mỗi vị 8g; Nhục quế 4g. Thái nhỏ tất cả, sắc với 400ml nước cho đến khi còn 100ml, uống 2 lần/ngày.

Chữa viêm đa khớp dạng thấp

Ngưu tất, Thục địa, Đảng sâm, Độc hoạt, Tang ký sinh, Phòng phong, Tục đoạn, Xuyên quy, Bạch thược, Ý dĩ, mỗi vị 12g; Tần giao 10g; Quế chi, Xuyên khung, mỗi vị 8g; Cam thảo, Tế tân, mỗi vị 6g. Mỗi ngày sắc uống một thang.

Một số bài thuốc chữa bệnh sử dụng Ngưu tất dược liệu Một số bài thuốc chữa bệnh sử dụng Ngưu tất dược liệu

Chữa trẻ chậm đi

Ngưu tất 6g, vỏ Chân chim 12g, Mộc qua 6g. Tán nhỏ, uống với nước cơm.

Chữa rong kinh

Ngưu tất, Bạch truật, Cỏ nhọ nồi (mỗi vị 12g); Phục linh, Bán hạ (chế), Trần bì, Hương phụ (mỗi vị 8g). Sắc uống ngày một thang, uống liền 2-3 tuần.

Chữa hay đổ máu cam

Ngưu tất, Đại giả thạch, Tiên hạc thảo, lấy 1 lượng bằng nhau. Nghiền nát thành bột. Uống 1 liệu trình 10 ngày, uống 1-3 lần/ngày, mỗi lần 10g.

Chữa phong hàn tê thấp, đau lưng mỏi gối, các khớp xương không ổn định

Thân cây và lá Ngưu tất (khô) 20g sắc lấy nước, bỏ bã nấu cháo với 100g gạo lứt (cháo loãng), ăn 2-3 lần/ngày.

Chữa xuất huyết dạ con

Xuyên Ngưu tất 30g, sắc hai nước, bỏ bã, lấy nước 1 trộn lẫn nước 2. Ngày uống 1 thang, chia 2 lần uống.

Hạ huyết áp

Ngưu tất 10g, Thục địa 20g, Rễ nhàu 20g, Mã đề 20g, Táo nhân 10g, Trạch tả 10g và Hoa hòe 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa kinh nguyệt không đều

Nam Ngưu tất 20g, Cỏ cú (tứ chế) 16g, Nghệ xanh 16g, Ích mẫu 16g, Rễ gai (gai lá làm bánh) 30g, Sắc với 700ml nước, đun tới khi còn 200ml, uống liệu trình 10 ngày. Chia thành 3 lần uống trong ngày.

Dược liệu Ngưu tất trong các bài thuốc dân gian Dược liệu Ngưu tất trong các bài thuốc dân gian

Những điều cần lưu ý khi sử dụng vị thuốc Ngưu tất

  • Tránh sử dụng cho phụ nữ đang mang thai, băng huyết.
  • Khí hư, tỳ vị hư hàn không nên sử dụng vị thuốc này.
  • Mộng tinh, di tinh, hoạt tinh ở nam giới cũng không được sử dụng vị thuốc Ngưu tất.
  • Ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên dễ bị nhầm lẫn với cây Cỏ xước Achyranthes aspera nhưng có công dụng gần giống nhau.
  • Tránh sử dụng thịt trâu khi đang dùng Ngưu tất trị bệnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần, C. L., Đỗ, V. M., & Vũ, T. B. (2016). Giáo trình Dược liệu học.
  2. Nguyễn Nhược Kim (2007). Bào chế đông dược
  3. Nguyễn Mạnh Tuyển (2021)-Dược lý dược cổ truyền, NXB Y Học
  4. Dược điển Việt Nam IV.
1